Đang online: 10  |   Hôm qua: 1904  |   Lượt truy cập: 1791440
vi  en
Trang chủ > Chia sẻ > Văn bản pháp luật về Lao Động
Văn bản pháp luật về Lao Động

Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định 28/2015/NĐ-CP

Thông tư 28/2015/TT-BLĐTBXH hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật Việc làm và một số điều của Nghị định 28/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Việc làm về bảo hiểm thất nghiệp do Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành

BỘ LAO ĐỘNG – THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI
--------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 28./2015/TT-BLĐTBXH

Hà Nội, ngày 31 tháng 07 năm 2015

 

 

 

THÔNG TƯ

HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN ĐIỀU 52 CỦA LUẬT VIỆC LÀM VÀ MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 28/2015/NĐ-CP NGÀY 12 THÁNG 3 NĂM 2015 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH CHI TIẾT THI HÀNH MỘT SỐ ĐIỀU CỦA LUẬT VIỆC LÀM VỀ BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Căn cứ Luật việc làm ngày 16 tháng 11 năm 2013;

Căn cứ Nghị định số 106/2012/NĐ-CP ngày 20 tháng 12 năm 2012 của      Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội;

Căn cứ Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Việc làm,

Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành Thông tư hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

Chương I

QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Thông tư này hướng dẫn thực hiện Điều 52 của Luật việc làm và một số điều của Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Đối tượng áp dụng của Thông tư này là đối tượng áp dụng quy định tại Điều 2 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 3 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật việc làm về bảo hiểm thất nghiệp (sau đây được viết tắt là Nghị định số 28/2015/NĐ-CP).

Chương II

THAM GIA VÀ ĐÓNG BẢO HIỂM THẤT NGHIỆP

Điều 3. Tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 2 Điều 11 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP

1. Người sử dụng lao động phải lập và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động cho tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc của người lao động thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp có hiệu lực.

2. Trường hợp người lao động giao kết nhiều hợp đồng lao động đều thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp và đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo hợp đồng lao động có hiệu lực đầu tiên thì khi chấm dứt hoặc thay đổi hợp đồng lao động đang tham gia bảo hiểm thất nghiệp dẫn đến người lao động không thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp thì người sử dụng lao động thuộc đối tượng bắt buộc tham gia bảo hiểm thất nghiệp của hợp đồng lao động có hiệu lực kế tiếp phải lập và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của người lao động cho tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày người lao động chấm dứt hoặc thay đổi hợp đồng lao động nêu trên.

Ví dụ 1: Ông Nguyễn Văn A giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng với doanh nghiệp B,  hợp đồng lao động này có hiệu lực kể từ ngày 01/11/2014. Đến ngày 01/02/2015 ông A giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng với doanh nghiệp C, hợp đồng lao động này có hiệu lực kể từ ngày ký. Ngày 01/5/2015, ông A chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp B và đồng thời thực hiện thông báo về việc chấm dứt hợp đồng lao động tại doanh nghiệp B với doanh nghiệp C. Như vậy, doanh nghiệp C phải lập và nộp hồ sơ tham gia bảo hiểm thất nghiệp của ông A cho tổ chức bảo hiểm xã hội trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày 01/5/2015.

3. Trường hợp trước ngày 01/01/2015 người sử dụng lao động đã giao kết hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn từ đủ 03 tháng đến dưới 12 tháng với người lao động và đang thực hiện hợp đồng lao động này, tính đến ngày 01/01/2015 thời hạn hợp đồng lao động nêu trên còn ít nhất 03 tháng trở lên thì người sử dụng lao động phải tham gia bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động kể từ ngày 01/01/2015 trở đi.

Điều 4. Đóng bảo hiểm thất nghiệp

Trình tự, thủ tục đóng bảo hiểm thất nghiệp thực hiện theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Chương III

HỖ TRỢ TƯ VẤN, GIỚI THIỆU VIỆC LÀM

Điều 5. Trình tự, thủ tục tư vấn, giới thiệu việc làm theo Điều 15 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP

1. Người lao động ghi đầy đủ các thông tin cá nhân, nhu cầu cần tư vấn, nhu cầu về giới thiệu việc làm vào phiếu tư vấn, giới thiệu việc làm theo Mẫu số 01 ban hành kèm theo Thông tư này và nộp trực tiếp cho trung tâm dịch vụ việc làm.

2. Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm tiếp nhận phiếu tư vấn, giới thiệu việc làm và căn cứ vào nhu cầu, khả năng của người lao động, nhu cầu tuyển dụng của người sử dụng lao động để trao đổi về các nội dung liên quan đến vị trí việc làm phù hợp với người lao động.

3. Trung tâm dịch vụ việc làm giới thiệu cho người lao động việc làm theo yêu cầu của người lao động ghi trong phiếu tư vấn, giới thiệu việc làm hoặc việc làm chưa đáp ứng được hoàn toàn nhu cầu của người lao động nhưng được người lao động chấp thuận việc làm đó. Phiếu giới thiệu việc làm theo Mẫu số 02 ban hành kèm theo Thông tư này và gửi cho người lao động để người lao động đến người sử dụng lao động dự tuyển.

4. Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm theo dõi kết quả liên hệ và dự tuyển của người lao động.

Điều 6. Từ chối nhận việc làm theo quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP

Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được xác định là từ chối nhận việc làm mà không có lý do chính đáng khi người lao động đó đã tham gia dự tuyển theo giới thiệu của trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp và có thông báo trúng tuyển của người sử dụng lao động nhưng người lao động không nhận việc làm đã trúng tuyển đó.

Ví dụ 2: Ông Trương Văn B được trung tâm dịch vụ việc làm nơi ông đang hưởng trợ cấp thất nghiệp giới thiệu đến công ty S để dự tuyển và công ty S đã thông báo ông B trúng tuyển nhưng ông B không nhận việc làm đó. Như vậy ông B được coi là từ chối việc làm mà không có lý do chính đáng.

Chương IV

TRỢ CẤP THẤT NGHIỆP

Điều 7. Người lao động không có nhu cầu hưởng trợ cấp thất nghiệp

Người lao động đã nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp nhưng chưa nhận trợ cấp thất nghiệp mà không có nhu cầu nhận trợ cấp thất nghiệp để cộng dồn thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 1 Điều 45 Luật việc làm thì làm đơn đề nghị không hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 08 ban hành kèm theo Thông tư này. Trung tâm dịch vụ việc làm có trách nhiệm xem xét, trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 09 ban hành kèm theo Thông tư này.

Quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để không chi trả trợ cấp thất nghiệp, 01 đến người lao động.

Điều 8. Mức hưởng và tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp

1. Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật việc làm được xác định như sau:

Mức hưởng TCTN hằng tháng

=

60%

x

Mức lương bình quân của 06 tháng cuối có đóng BHTN trước khi thất nghiệp

a) Trường hợp những tháng cuối cùng trước khi thất nghiệp, người lao động có thời gian gián đoạn đóng bảo hiểm thất nghiệp thì sáu tháng liền kề để tính mức hưởng trợ cấp thất nghiệp là bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của 06 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp trước khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc theo quy định của pháp luật.

Ví dụ 3: Bà Nguyễn Thị D giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 24 tháng với trường tiểu học E với mức lương như sau: từ ngày 01/01/2014 đến ngày 31/12/2014 là 3.000.000 đồng/tháng, từ ngày 01/01/2015 đến 31/12/2015 là 4.000.000 đồng/tháng. Ngày 01/3/2015 đến ngày 31/3/2015, bà D thỏa thuận tạm hoãn hợp đồng lao động với trường tiểu học E. Ngày 18/4/2015 bà D xin nghỉ việc và đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, mức đóng làm căn cứ tính trợ cấp thất nghiệp của bà D là bình quân tiền lương 06 tháng trước khi bà nghỉ việc mà có đóng bảo hiểm thất nghiệp (tháng 10, 11, 12/2014 và tháng 01, 02, 4/2015). Mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của bà D là (3.000.000 đồng x 3 tháng + 4.000.000 đồng x 3 tháng) / 6 x 60% = 2.000.000 đồng/tháng.

Ví dụ 4: Ông Đào Văn N có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục 38 tháng (từ ngày 01/01/2011 đến ngày 28/02/2015), với mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp 6 tháng cuối trước khi mất việc làm là 8.000.000 đồng/tháng, ông N được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian 03 tháng (thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông N tính từ ngày 05/4/2015 đến ngày 04/7/2015). Ngày 02/5/2015 ông N thực hiện giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng với doanh nghiệp J (mức lương làm căn cứ đóng bảo hiểm thất nghiệp là 7.000.000 đồng/tháng) và thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm để bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp. Ngày 28/7/2015 ông N lại mất việc làm và nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp lần 2. Sáu tháng liền kề có đóng bảo hiểm thất nghiệp để làm căn cứ tính mức trợ cấp thất nghiệp của ông N là các tháng sau: tháng 12/2014 và tháng 01, 02, 5, 6, 7/2015. Như vậy, mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của ông N là (8.000.000 đồng x 3 tháng + 7.000.000 đồng x 3 tháng) / 6 x 60% = 4.500.000 đồng/tháng.

b) Trường hợp mức trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của người lao động cao hơn 05 lần mức lương cơ sở đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định hoặc cao hơn 05 lần mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Bộ luật lao động đối với người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định tại thời điểm chấm dứt hợp đồng lao động hoặc hợp đồng làm việc thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 50 Luật việc làm.

Ví dụ 5: Ngày 01/01/2015, ông Trịnh Xuân Đ giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng với doanh nghiệp F với mức lương là 70.000.000 đồng/tháng. Doanh nghiệp F hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 3.100.000 đồng/tháng. Do đó, mức tiền lương tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông Đ là: 20 lần x 3.100.000 đồng = 62.000.000 đồng/tháng.

Ngày 01/01/2016, ông Đ chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp F và chuyển sang giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 03 tháng với doanh nghiệp G với mức lương là 80.000.000 đồng/tháng. Doanh nghiệp G có trụ sở chính hoạt động trên địa bàn thuộc vùng IV, áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 2.150.000 đồng/tháng nhưng ông Đ không làm việc tại trụ sở chính mà làm việc tại chi nhánh, chi nhánh này hoạt động trên địa bàn thuộc vùng III,  áp dụng mức lương tối thiểu vùng theo quy định của Chính phủ là 2.400.000 đồng/tháng. Do đó, ông Đ tham gia và đóng bảo hiểm thất nghiệp tại tổ chức bảo hiểm xã hội nơi chi nhánh hoạt động với mức lương là: 20 lần x 2.400.000 đồng = 48.000.000 đồng/tháng.

Ngày 31/3/2016, ông Đ chấm dứt hợp đồng lao động với doanh nghiệp G và nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, 60% mức lương bình quân của 6 tháng liền kề trước khi ông Đ chấm dứt hợp đồng lao động là: (62.000.000 đồng x 3 tháng + 48.000.000 đồng  x 3 tháng) / 6 x 60% = 33.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo quy định thì mức hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông Đ không được quá 5 lần mức lương tối thiểu vùng tại thời điểm ông chấm dứt hợp đồng lao động. Do đó, mức hưởng trợ cấp thất nghiệp hằng tháng của ông Đ là 12.000.000 đồng/tháng (2.400.000 đồng x 5 lần = 12.000.000 đồng/tháng).

2. Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Khoản 4 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP, được hướng dẫn thực hiện như sau:

Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính theo dương lịch. Mỗi tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp được tính từ ngày người lao động bắt đầu hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều 50 Luật việc làm đến ngày đó của tháng sau trừ 01 ngày.

Điều 9. Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

1. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu của người lao động theo quy định tại Khoản 4 Điều 53 Luật việc làm được xác định như sau:

Thời gian đóng BHTN được bảo lưu

=

Thời gian đóng BHTN

-

Thời gian đóng đã hưởng TCTN

2. Các trường hợp người lao động có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu, bao gồm:

a) Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động không đến nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp được thực hiện theo quy định tại Khoản 3 và Khoản 4 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP. Sau khi có quyết định của Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm thực hiện xác nhận về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu vào sổ bảo hiểm xã hội của người lao động theo Mẫu số 21 ban hành kèm theo Thông tư này.

Trường hợp sau 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn trả kết quả giải quyết hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu người lao động không đến trung tâm dịch vụ việc làm để nhận lại sổ bảo hiểm xã hội thì trung tâm dịch vụ việc làm có văn bản để chuyển sổ bảo hiểm xã hội của người lao động đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để quản lý.

Ví dụ 6: Ông Trần Văn M có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 38 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng và được bảo lưu 02 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều này. Ngày trả kết quả ghi trong phiếu hẹn trả kết quả của ông M là ngày 16/3/2015. Tuy nhiên đến ngày 18/3/2015 (tức là sau 02 ngày làm việc) ông M không đến nhận quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định.  Do vậy, đến ngày 27/3/2015 (tức là sau 7 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn trả kết quả) trung tâm dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quyết định về việc hủy quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông M và thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông M được bảo lưu là 38 tháng.

b) Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp được thực hiện theo quy định tại Khoản 6 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP. Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh căn cứ quyết định về việc bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của người lao động thực hiện việc xác nhận bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vào sổ bảo hiểm xã hội theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Ví dụ 7: Ông Trần Văn N có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 36 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp là 03 tháng. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông N tính từ ngày 20/02/2015 đến ngày 19/5/2015. Tuy nhiên, đến ngày 19/8/2015 (tức là sau 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp) ông N vẫn không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ ba. Như vậy, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà ông N được bảo lưu là 12 tháng (tương ứng với 01 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp mà ông N không đến nhận tiền).

Ví dụ 8: Bà Lê Thị T có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 12 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của bà T tính từ ngày 06/7/2015 đến ngày 05/10/2015 (tức là sau 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp). Tuy nhiên, đến hết ngày 05/01/2016 bà T vẫn không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ hai và thứ ba. Như vậy, bà T đã nhận trợ cấp thất nghiệp 01 tháng (tương ứng với 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp) nên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của bà T không còn để bảo lưu.

Ví dụ 9: Bà Bùi Xuân H có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 29 tháng, bà được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của bà tính từ ngày 09/3/2015 đến ngày 08/6/2015. Bà H đã nhận trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên và bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng thứ hai. Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ ba bà đến trung tâm dịch vụ việc làm để thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định nên bà được tiếp tục hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng thứ ba. Tuy nhiên, đến hết ngày 08/9/2015 (tức là sau 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn hưởng trợ cấp thất nghiệp), bà H vẫn không đến nhận tiền trợ cấp thất nghiệp của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ ba. Như vậy, bà H đã hưởng trợ cấp thất nghiệp 01 tháng (tương ứng với 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp) và bị tạm dừng 01 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp (tương ứng với 12 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp) nên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu của bà H là 05 tháng.

c) Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp khi người lao động có những tháng lẻ chưa giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp được thực hiện theo quy định tại Khoản 7 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP. Sau khi có quyết định của Giám đốc Sở Lao động-Thương binh và Xã hội về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp, trung tâm dịch vụ việc làm thực hiện xác nhận về thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu vào sổ bảo hiểm xã hội của người lao động theo Mẫu số 21 ban hành kèm theo Thông tư này.

Trường hợp sau 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn trả kết quả giải quyết hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu người lao động không đến trung tâm dịch vụ việc làm để nhận lại sổ bảo hiểm xã hội thì trung tâm dịch vụ việc làm chuyển sổ bảo hiểm xã hội của người lao động sang Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để quản lý.

Ví dụ 10: Ngày 24/3/2015, ông Trần Quang P bị chấm dứt hợp đồng lao động. Ông P có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 47 tháng, được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 3 tháng (tương ứng với 36 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp), thời gian ông P được bảo lưu là 11 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp.

Sau khi hết thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, ngày 01/9/2015 ông P có việc làm và tiếp tục tham gia bảo hiểm thất nghiệp. Ngày 31/11/2015 (sau 03 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp) ông P bị mất việc làm và nộp hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp. Như vậy, tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp mà chưa được giải quyết hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông P là 14 tháng. Nếu ông đáp ứng đủ điều kiện hưởng trợ cấp thất nghiệp thì ông được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian 03 tháng.

Ví dụ 11: Ông Đỗ Văn G có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 35 tháng, ông được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng và không được bảo lưu tháng lẻ có đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 7 Điều 18 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP.

d) Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp trong các trường hợp người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp được thực hiện theo quy định tại Khoản 5 Điều 21 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP. Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh căn cứ quyết định về việc chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động thực hiện việc xác nhận bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp vào sổ bảo hiểm xã hội cho người lao động  theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Ví dụ 12: Ông Nguyễn Văn S có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 38 tháng, ông được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng và được bảo lưu 02 tháng đóng bảo hiểm thất nghiệp theo quy định tại Khoản 3 Điều này. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông S tính từ ngày 02/3/2015 đến ngày 01/6/2015 (tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ nhất từ ngày 02/3/2015 đến ngày 01/4/2015; tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ hai từ ngày 02/4/2015 đến ngày 01/5/2015; tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ ba từ ngày 02/5/2015 đến ngày 01/6/2015). Tuy nhiên, ngày 25/4/2015 ông S thực hiện nghĩa vụ quân sự nên bị chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp do đó không được nhận 01 tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp cuối cùng mà được bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 12 tháng. Như vậy, tổng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp được bảo lưu của ông S là 12 tháng + 2 tháng = 14 tháng.

Ví dụ 13: Ông Nguyễn Văn S có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 36 tháng, ông được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông S tính từ ngày 10/3/2015 đến ngày 09/6/2015. Ngày 12/5/2015 ông S thông báo với trung tâm dịch vụ việc làm về việc đã tìm được việc làm để Trung tâm làm thủ tục chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp. Tuy nhiên, thực tế ngày 08/4/2015 ông đã thực hiện giao kết hợp đồng lao động có thời hạn 12 tháng với doanh nghiệp P, hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký. Như vậy, ngày để làm căn cứ chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông S là ngày 08/4/2015.

Ví dụ 14: Ông Đỗ Văn X có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp là 13 tháng, ông được hưởng trợ cấp thất nghiệp với thời gian là 03 tháng. Thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp của ông X tính từ ngày 03/3/2015 đến ngày 02/6/2015. Tuy nhiên, ngày 25/3/2015 ông X có việc làm, như vậy ông X đã được hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên (từ 03/3/2015 đến ngày 02/4/2015) tương ứng với 12 tháng đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nên thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp của ông X được bảo lưu là 01 tháng.

Điều 10. Thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo Điều 52 Luật việc làm

1. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp, hằng tháng người lao động phải trực tiếp thông báo về việc tìm kiếm việc làm với trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp theo Mẫu số 16 ban hành kèm theo Thông tư này, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều này.

2. Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây thì không phải thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp:

a) Nam từ đủ 60 tuổi trở lên, nữ từ đủ 55 tuổi trở lên;

b) Xác định bị ốm đau, phải điều trị dài ngày có giấy xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;

c) Nghỉ hưởng chế độ thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền hoặc xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã đối với trường hợp mẹ chết sau khi sinh con mà cha trực tiếp nuôi dưỡng;

d) Đang tham gia khóa học nghề có xác nhận của cơ sở dạy nghề;

đ) Thực hiện hợp đồng lao động có thời hạn dưới 03 tháng.

Đối với trường hợp b, c, d, đ tại khoản này, trong thời hạn 03 ngày tính theo ngày làm việc kể từ ngày người lao động phải thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo quy định thì người lao động đó phải gửi giấy đề nghị không thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo Mẫu số 17 ban hành kèm theo Thông tư này và kèm theo giấy tờ theo quy định nêu trên, trường hợp gửi theo đường bưu điện thì tính theo ngày ghi trên dấu bưu điện. Sau khi hết thời hạn của một trong các trường hợp nêu trên phải tiếp tục thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định.

Ví dụ 15: Bà Trần Thị T có quyết định về việc hưởng trợ cấp thất nghiệp 06 tháng kể từ ngày 02/3/2015 đến ngày 01/9/2015 (ngày thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng cụ thể như sau: Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ nhất là ngày nhận trả kết quả, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 2 từ ngày 03 đến ngày 07/4, tháng  hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 3 từ ngày 04 – 06/5, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 4 từ ngày 03 đến ngày 05/6, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 5 từ ngày 02 đến ngày 06/7, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 6 từ ngày 03 đến ngày 07/8). Ngày 01/4/2015 bà T đăng ký học nghề may, thời gian học nghề của bà là 03 tháng tính từ ngày 01/4/2015 đến ngày 30/6/2015. Như vậy, từ ngày 03 đến ngày 07/4 (ngày thông báo về việc tìm kiếm việc làm của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 2) bà T phải gửi giấy xác nhận của cơ sở dạy nghề về việc đang học nghề cho trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 3, thứ 4 bà T không phải thông báo về việc tìm kiếm việc làm. Tuy nhiên đến tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ 5, thứ 6 bà T phải tiếp tục thực hiện thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng theo quy định.

3. Người lao động nếu thuộc một trong các trường hợp sau thì phải thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm nhưng không phải trực tiếp đến trung tâm dịch vụ việc làm để thông báo (trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này):

a) Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;

b) Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền;

c) Bị hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Các trường hợp không trực tiếp đến trung tâm dịch vụ việc làm thì chậm nhất trong thời hạn 03 ngày tính theo ngày làm việc kể từ ngày thông báo về việc tìm kiếm việc làm theo quy định, người lao động phải thông qua người khác hoặc gửi giấy tờ theo quy định nêu trên đến trung tâm dịch vụ việc làm nơi đang hưởng trợ cấp thất nghiệp, trường hợp gửi theo đường bưu điện thì tính theo ngày ghi trên dấu bưu điện.

4. Ngày người lao động thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm được ghi cụ thể trong quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp của người lao động như sau:

a) Tháng thứ nhất hưởng trợ cấp thất nghiệp là ngày nhận quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp theo phiếu hẹn trả kết quả giải quyết hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp;

b) Từ tháng thứ 2 trở đi người lao động thực hiện thông báo hằng tháng về việc tìm kiếm việc làm trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày đầu tiên của tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp.

5. Trường hợp ngày thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng của người lao động nằm trong khoảng thời gian làm thủ tục chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Điều 22 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP thì người lao động không phải thực hiện việc thông báo về việc tìm kiếm việc làm với trung tâm dịch vụ việc làm.

Ví dụ 16: Bà Nguyễn Lan Y có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp 03 tháng. Tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ nhất từ ngày 02/7/2015 đến ngày 01/8/2015, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ hai từ ngày 02/8/2015 đến ngày 01/9/2015, tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ ba từ ngày 02/9/2015 đến ngày 01/10/2015. Sau khi hưởng trợ cấp thất nghiệp tháng đầu tiên, ngày 28/7/2015 bà Y làm đề nghị chuyển nơi hưởng trợ cấp thất nghiệp trong khi ngày thông báo về việc tìm kiếm việc làm tháng hưởng trợ cấp thất nghiệp thứ hai của bà Y là ngày mùng 03 đến ngày mùng 05/8/2015. Như vậy, bà Y không phải thực hiện việc thông báo tìm kiếm việc làm hằng tháng với Trung tâm Dịch vụ việc làm nơi chuyển đi cũng như nơi chuyển đến mà không bị tạm dừng hưởng trợ cấp thất nghiệp.

6. Người lao động đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được coi là đã thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng khi đã ghi đầy đủ, trung thực các nội dung trong thông báo về việc tìm kiếm việc làm hằng tháng và chịu trách nhiệm về nội dung thông báo.

Chương V

HỖ TRỢ HỌC NGHỀ

Điều 11. Nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề

Người lao động có nhu cầu học nghề phải nộp trực tiếp 01 bộ hồ sơ theo quy định tại Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP được hướng dẫn thực hiện như sau:

1. Đối với người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp thì nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề theo quy định tại Điểm a Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP

Ví dụ 17: Bà Mai Thị K đang hưởng trợ cấp thất nghiệp tại tỉnh X. Trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp bà có nhu cầu học nghề. Như vậy, bà K phải làm đề nghị hỗ trợ học nghề gửi trung tâm dịch vụ việc làm tỉnh X để Trung tâm xem xét, tư vấn học nghề, trình Giám đốc Sở Lao động – Thương binh và Xã hội tỉnh X quyết định việc hỗ trợ học nghề cho bà K.

2. Đối với người thất nghiệp có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp từ đủ 09 tháng trở lên nhưng không thuộc diện đang hưởng trợ cấp thất nghiệp nếu có nhu cầu học nghề thì nộp hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 25 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP cùng với hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp cho trung tâm dịch vụ việc làm nơi người lao động có nhu cầu học nghề.

Ví dụ 18: Ông Nguyễn Văn Z có thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp liên tục là 11 tháng. Khi thất nghiệp, ông Z có nhu cầu học nghề. Như vậy, ông Z phải nộp đề nghị hỗ trợ học nghề cùng với hồ sơ đề nghị hưởng trợ cấp thất nghiệp theo quy định tại Điều 16 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP cho trung tâm dịch vụ việc làm nơi ông Z có nhu cầu học nghề.

Điều 12. Giải quyết hỗ trợ học nghề

1. Sau thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày ghi trong phiếu hẹn trả kết quả, nếu người lao động không đến nhận quyết định về việc hỗ trợ học nghề thì được coi là không có nhu cầu được hỗ trợ học nghề trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này. Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày người lao động không đến nhận quyết định về việc hỗ trợ học nghề theo quy định, trung tâm dịch vụ việc làm trình Giám đốc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội quyết định về việc hủy quyết định hỗ trợ học nghề của người lao động.

Quyết định về việc hủy quyết định hỗ trợ học nghề được trung tâm dịch vụ việc làm gửi: 01 bản đến Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để không thực hiện chi trả tiền hỗ trợ học nghề cho cơ sở dạy nghề; 01 bản đến cơ sở dạy nghề để không thực hiện việc dạy nghề cho người lao động; 01 bản đến người lao động. Quyết định về việc hủy quyết định hỗ trợ học nghề thực hiện theo Mẫu số 20 ban hành kèm theo Thông tư này.

2. Trong thời hạn 02 ngày làm việc kể từ ngày hết hạn nhận quyết định hỗ trợ học nghề, người lao động vẫn được nhận hoặc ủy quyền cho người khác nhận quyết định hỗ trợ học nghề nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

a) Ốm đau, thai sản có xác nhận của cơ sở y tế có thẩm quyền;

b) Bị tai nạn có xác nhận của cảnh sát giao thông hoặc cơ sở y tế có thẩm quyền;

c) Bị hỏa hoạn, lũ lụt, động đất, sóng thần, địch họa, dịch bệnh có xác nhận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

3. Sau 03 tháng kể từ ngày hết thời hạn trả kết quả giải quyết hồ sơ đề nghị hỗ trợ học nghề đối với trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 11 Thông tư này nếu người lao động không đến trung tâm dịch vụ việc làm để nhận lại sổ bảo hiểm xã hội thì trung tâm dịch vụ việc làm chuyển sổ bảo hiểm xã hội của người lao động sang cơ quan bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để quản lý.

4. Hằng tháng, cơ sở dạy nghề lập danh sách và có chữ ký của người lao động đang học nghề chuyển cho Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh để thanh toán kinh phí hỗ trợ học nghề theo tháng của người lao động tham gia học nghề.

5. Trình tự, thủ tục chi trả hỗ trợ học nghề theo hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Chương VI

HỖ TRỢ ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG, NÂNG CAO TRÌNH ĐỘ KỸ NĂNG NGHỀ ĐỂ DUY TRÌ VIỆC LÀM CHO NGƯỜI LAO ĐỘNG

Điều 13. Văn bản đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động

Văn bản đề nghị hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động phải bao gồm các nội dung cơ bản sau:

1. Thông tin chung về đơn vị: Tên; địa chỉ; ngày thành lập; ngành, nghề hoặc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, người đại diện.

2. Tình hình sản xuất, kinh doanh của đơn vị.

3. Tổng số lao động của đơn vị, số lao động có nguy cơ bị cắt giảm tại thời điểm đề nghị hỗ trợ (không bao gồm người lao động có giao kết hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng), số lao động đề nghị được hỗ trợ.

4. Những khó khăn và nguyên nhân buộc phải thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ sản xuất, kinh doanh.

5. Tổng kinh phí để tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề cho người lao động (có dự toán chi tiết kèm theo bao gồm các chi phí để thực hiện phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động).

6. Cam kết tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và sử dụng lao động theo đúng phương án đã được phê duyệt.

Điều 14. Phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì việc làm

Phương án đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề và duy trì việc làm bao gồm các nội dung cơ bản sau:

1. Thông tin chung về đơn vị: Tên; địa chỉ trụ sở; ngày thành lập; ngành, nghề hoặc lĩnh vực sản xuất kinh doanh, người đại diện.

2. Danh sách lao động đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm tại đơn vị và nêu rõ ngành, nghề đào tạo; thời gian đào tạo; địa điểm đào tạo của từng người lao động.

3. Cơ sở đào tạo (ghi rõ cơ sở đào tạo thuộc đơn vị hay liên kết đào tạo, nếu liên kết đào tạo đề nghị kèm theo hợp đồng liên kết đào tạo, cơ sở đào tạo phải có đăng ký hoạt động dạy nghề theo quy định của pháp luật về dạy nghề).

4. Hình thức tổ chức đào tạo và dự kiến thời gian khai giảng và bế giảng của khóa học.

5. Phương án duy trì việc làm cho người lao động sau khi đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề bao gồm các nội dung sau:

a) Số lao động được tiếp tục làm việc hoặc thay đổi vị trí việc làm phù hợp với phương án chuyển đổi công nghệ sản xuất kinh doanh.

b) Cam kết của người sử dụng lao động về việc sử dụng lao động theo đúng phương án. Nếu người lao động không được bố trí việc làm thì người sử dụng lao động sẽ phải hoàn trả toàn bộ kinh phí hỗ trợ bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề.

6. Dự toán chi tiết kinh phí thực hiện.

Điều 15. Mức hỗ trợ kinh phí đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định số 28/2015/NĐ-CP

1. Đối với trường hợp khóa đào tạo được thực hiện tại cơ sở dạy nghề thì mức hỗ trợ kinh phí cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động được tính theo tháng, thời gian học thực tế của từng nghề hoặc từng khóa đào tạo.

2. Đối với trường hợp khóa đào tạo do đơn vị tự tổ chức thực hiện thì mức hỗ trợ kinh phí cụ thể để đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng nghề để duy trì việc làm cho người lao động được tính theo tháng, thời gian học thực tế của từng nghề hoặc từng khóa đào tạo nhưng không cao hơn mức quy định tại Khoản 1 Điều này.

 

Hệ thống đang xử lý. Vui lòng đợi!